Điện thoại trong thời gian gia đình ảnh hưởng cảm giác thuộc về thế nào?
- Cảm giác thuộc về được tạo nên từ sự hiện diện có tính đáp ứng
- Điện thoại làm loãng sự hiện diện bằng cách chia nhỏ chú ý
- Từ gián đoạn chú ý đến cảm giác mình ít được ưu tiên hơn
- Những thời điểm có ý nghĩa dễ bị ảnh hưởng hơn các tương tác thông thường
- Không phải mọi lần dùng điện thoại khi ở cùng gia đình đều làm giảm gắn kết
- Bảo vệ cảm giác thuộc về bằng cách bảo vệ những khoảng chú ý trọn vẹn
Vì vậy, tác động đáng chú ý của điện thoại không nhất thiết nằm ở tổng số phút sử dụng. Điều quan trọng hơn là điện thoại xuất hiện vào thời điểm nào và nó làm thay đổi chất lượng tương tác ra sao. Một lần kiểm tra tin nhắn ngắn có thể không đáng kể; nhưng nếu sự chú ý thường xuyên bị chuyển khỏi cuộc trò chuyện, các thành viên có thể vẫn ở cạnh nhau về mặt thể chất trong khi trải nghiệm tâm lý lại giống như đang ở những không gian khác nhau.
Cảm giác thuộc về được tạo nên từ sự hiện diện có tính đáp ứng
Trong bối cảnh gia đình, “thuộc về” không đơn giản có nghĩa là biết mình là thành viên của gia đình. Ở cấp độ trải nghiệm, nó còn bao gồm cảm giác rằng mình được chú ý, được tiếp nhận và có một vị trí trong tương tác đang diễn ra.
Một cuộc trò chuyện tạo gắn kết thường có tính hai chiều. Khi một người kể chuyện, người còn lại không chỉ nghe nội dung mà còn phản ứng bằng ánh mắt, nét mặt, câu hỏi, sự đồng cảm hoặc một câu trả lời đúng thời điểm. Những phản hồi ấy truyền tải một thông điệp ngầm: “Điều bạn đang nói quan trọng đối với tôi.”
Điện thoại có thể làm suy yếu chính chuỗi tín hiệu này. Nếu một người vừa nghe vừa nhìn màn hình, trả lời chậm hoặc bỏ lỡ một thay đổi nhỏ trong giọng nói của người đối diện, phần nội dung của cuộc trò chuyện có thể vẫn tiếp tục nhưng mức độ đáp ứng đã khác.
Các thí nghiệm của Przybylski và Weinstein cho thấy ngay cả sự hiện diện của một chiếc điện thoại trong môi trường trò chuyện cũng có thể liên quan đến đánh giá thấp hơn về chất lượng quan hệ và sự gần gũi. Trong thí nghiệm thứ hai, ảnh hưởng này đặc biệt rõ khi người tham gia thảo luận một chủ đề có ý nghĩa cá nhân: nhóm có điện thoại hiện diện báo cáo chất lượng tương tác, mức tin cậy và cảm nhận về sự đồng cảm thấp hơn nhóm không có điện thoại.
Điều này giúp giải thích vì sao vấn đề không chỉ là “có nói chuyện hay không”. Một gia đình vẫn có thể nói với nhau suốt bữa ăn, nhưng nếu sự chú ý liên tục bị phân mảnh, trải nghiệm được lắng nghe và được đón nhận có thể yếu đi.

Điện thoại làm loãng sự hiện diện bằng cách chia nhỏ chú ý
Cơ chế trực tiếp nhất là cạnh tranh sự chú ý.
Trong một tương tác mặt đối mặt, thành viên gia đình phải theo dõi đồng thời lời nói, biểu cảm, giọng điệu, khoảng dừng và bối cảnh của người kia. Điện thoại đưa thêm một luồng thông tin khác vào cùng thời điểm: thông báo, tin nhắn, công việc, video, mạng xã hội hoặc đơn giản là thôi thúc kiểm tra xem có gì mới.
Khi sự chú ý chuyển qua lại giữa hai nguồn, người sử dụng có thể vẫn tin rằng mình đang “nghe”, nhưng khả năng phản hồi liên tục bị gián đoạn. Người đối diện lại quan sát được những khoảng gián đoạn đó qua việc mắt rời khỏi cuộc trò chuyện, câu trả lời trở nên ngắn hơn hoặc phải nhắc lại điều vừa nói.
Nghiên cứu thực địa của Dwyer, Kushlev và Dunn về sử dụng smartphone trong các tương tác trực tiếp cho thấy việc sử dụng điện thoại trong bữa ăn với bạn bè hoặc gia đình làm tăng sự phân tâm và làm giảm mức tận hưởng tương tác. Nghiên cứu này kết hợp một thí nghiệm thực địa với phương pháp lấy mẫu trải nghiệm trong đời sống hằng ngày, cho thấy ảnh hưởng không chỉ giới hạn trong phòng thí nghiệm.
Với cảm giác thuộc về, hệ quả quan trọng nằm ở những gì sự phân tâm lấy đi. Nó có thể làm mất các “khoảnh khắc nối” rất ngắn: một đứa trẻ quay sang khoe điều vừa làm được; một người bạn đời muốn kể chuyện khó chịu trong ngày; một thành viên lớn tuổi đưa ra một nhận xét nhưng không nhận được phản hồi.
Một khoảnh khắc riêng lẻ hiếm khi quyết định chất lượng quan hệ. Tuy nhiên, nếu mô hình “đưa tín hiệu nhưng không được đón nhận” lặp lại đủ nhiều, thành viên còn lại có thể bắt đầu giảm kỳ vọng rằng sự hiện diện hoặc câu chuyện của mình sẽ được chú ý.
Từ gián đoạn chú ý đến cảm giác mình ít được ưu tiên hơn
Điện thoại không chỉ chiếm tài nguyên nhận thức. Trong một quan hệ gần gũi, cách một người phân bổ chú ý còn mang ý nghĩa xã hội.
Nếu điện thoại rung giữa một cuộc trò chuyện và người kia lập tức kiểm tra, hành động đó có thể vô tình tạo ra một phép so sánh: điều đang xảy ra trên màn hình dường như được ưu tiên hơn người đang có mặt. Ý nghĩa này không nhất thiết phản ánh ý định của người sử dụng. Họ có thể chỉ đang phản ứng theo thói quen hoặc kiểm tra một việc rất nhỏ. Nhưng người đối diện phải diễn giải hành vi dựa trên tín hiệu họ nhận được.
Hiện tượng công nghệ chen vào các tương tác trực tiếp thường được nghiên cứu dưới khái niệm technoference. Trong nghiên cứu về cha mẹ và trẻ nhỏ, McDaniel và Radesky định nghĩa technoference là những gián đoạn trong cuộc trò chuyện hoặc hoạt động cha mẹ–con cái do thiết bị công nghệ. Ở mẫu 170 gia đình, mức sử dụng công nghệ có vấn đề của cha mẹ liên quan đến technoference thường xuyên hơn trong tương tác với con; tác giả đồng thời nhấn mạnh rằng thiết kế cắt ngang của nghiên cứu không cho phép kết luận chắc chắn về chiều nhân quả.
Điểm cần phân biệt ở đây là cảm giác bị bỏ qua không nhất thiết đòi hỏi người kia cố tình bỏ qua. Trong quan hệ thân thiết, việc một người có sẵn sàng hướng sự chú ý về phía mình hay không đã là một tín hiệu quan hệ.
Bởi vậy, điện thoại có thể tác động đến cảm giác thuộc về qua một chuỗi khá đơn giản:
Sự chú ý bị chuyển đi → phản hồi trở nên đứt đoạn → người đối diện nhận được ít tín hiệu quan tâm hơn → tương tác tạo ít cảm giác gần gũi hơn → nếu mô hình lặp lại, người đó có thể cảm thấy mình ít được ưu tiên hoặc ít “có mặt” trong đời sống chung.
Đây cũng là lý do hai gia đình có cùng lượng thời gian sử dụng điện thoại chưa chắc có cùng trải nghiệm. Một người dùng điện thoại một giờ sau khi mọi người đã tách ra làm việc riêng khác đáng kể với việc kiểm tra màn hình hàng chục lần trong khoảng thời gian vốn được hiểu là dành cho nhau.
Những thời điểm có ý nghĩa dễ bị ảnh hưởng hơn các tương tác thông thường
Ảnh hưởng của điện thoại không đồng đều ở mọi tình huống.
Một cuộc trao đổi như “chiều nay ai đi mua đồ?” cần ít sự chú ý cảm xúc hơn một cuộc trò chuyện về việc một đứa trẻ bị bạn bè xa lánh, một người đang căng thẳng trong công việc hoặc hai vợ chồng đang cố giải quyết một bất đồng.
Nghiên cứu thực nghiệm của Przybylski và Weinstein minh họa rõ sự khác biệt này. Trong thí nghiệm so sánh chủ đề thông thường với chủ đề có ý nghĩa cá nhân, điện thoại không tạo ra khác biệt đáng kể về chất lượng quan hệ trong cuộc trò chuyện bình thường, nhưng lại gắn với chất lượng quan hệ, sự tin cậy và cảm nhận đồng cảm thấp hơn khi cuộc trò chuyện mang tính cá nhân và có ý nghĩa.
Điều đó có ý nghĩa trực tiếp đối với thời gian gia đình. Những thời điểm cần được bảo vệ nhất không nhất thiết là toàn bộ thời gian mọi người ở cùng nhau, mà là các thời điểm trong đó một thành viên đang tìm kiếm kết nối.
Đó có thể là khi:
· Một người đang kể về điều có ý nghĩa với họ
· Một đứa trẻ chủ động tìm ánh mắt hoặc sự công nhận của cha mẹ
· Gia đình đang ăn cùng nhau và muốn trò chuyện
· Hai người đang giải quyết một xung đột hoặc hiểu lầm
· Một thành viên đang buồn, lo lắng hoặc cần được trấn an
Trong những tình huống này, một lần quay sang điện thoại có thể mang trọng lượng lớn hơn vì nó xảy ra đúng lúc người kia đang đánh giá xem mình có được đón nhận hay không.
Các nghiên cứu dọc về technoference trong quan hệ cha mẹ–con cái cũng cho thấy mối liên hệ giữa gián đoạn do công nghệ và những khó khăn trong tương tác gia đình có thể diễn ra theo hai chiều, thay vì một mô hình đơn giản trong đó điện thoại luôn là nguyên nhân duy nhất. Điều này quan trọng vì một gia đình đang căng thẳng sẵn có cũng có thể sử dụng thiết bị nhiều hơn như một cách rút khỏi tương tác.
Không phải mọi lần dùng điện thoại khi ở cùng gia đình đều làm giảm gắn kết
Một cách hiểu quá rộng là cho rằng điện thoại và cảm giác thuộc về luôn đối nghịch nhau. Bằng chứng hiện có không hỗ trợ một kết luận tuyệt đối như vậy.
Tác động phụ thuộc vào mục đích sử dụng, thời điểm, mức độ gián đoạn và ý nghĩa mà các thành viên gán cho hành vi đó.
Nếu cả gia đình cùng xem ảnh cũ trên điện thoại, gọi video cho một người thân ở xa, tra cứu thông tin phục vụ cuộc trò chuyện hoặc cùng xem một nội dung rồi bàn luận, thiết bị đang được tích hợp vào hoạt động chung thay vì kéo một người ra khỏi hoạt động chung.
Tương tự, một người nói trước “mình cần trả lời tin nhắn công việc này trong hai phút” tạo ra trải nghiệm khác với việc liên tục nhìn màn hình mà không giải thích. Trong trường hợp đầu, ranh giới của sự gián đoạn rõ ràng; người kia biết khi nào sự chú ý sẽ quay trở lại. Trong trường hợp thứ hai, họ phải liên tục đoán xem mình đang có bao nhiêu phần sự chú ý của đối phương.
Ngay cả nghiên cứu về sự hiện diện đơn thuần của điện thoại cũng có giới hạn. Các thí nghiệm ban đầu của Przybylski và Weinstein được thực hiện với những người lạ trong các cuộc trò chuyện ngắn, và chính các tác giả lưu ý rằng cần nghiên cứu thêm trong những quan hệ đã được thiết lập như cha mẹ–con cái hoặc bạn đời.
Do đó, câu hỏi hữu ích không phải là “gia đình có được phép dùng điện thoại hay không?”, mà là:
Việc sử dụng điện thoại này có đang hỗ trợ hoạt động chung, hay đang làm một người rời khỏi nó về mặt chú ý?
Sự phân biệt ấy tránh biến vấn đề thành một quy tắc đạo đức về màn hình và giữ trọng tâm ở cơ chế thực sự liên quan đến cảm giác thuộc về: khả năng tiếp cận, phản hồi và kết nối giữa những người đang ở cạnh nhau.
Bảo vệ cảm giác thuộc về bằng cách bảo vệ những khoảng chú ý trọn vẹn
Nếu mục tiêu là duy trì cảm giác gắn kết, gia đình không nhất thiết phải biến mọi giờ ở nhà thành “thời gian không điện thoại”. Một cách khả thi hơn là xác định những khoảng mà mọi người kỳ vọng được hiện diện với nhau và làm cho kỳ vọng đó đủ rõ.
Chẳng hạn, một bữa ăn có thể trở thành khoảng không kiểm tra thông báo thường xuyên. Khi một người đang chia sẻ chuyện quan trọng, người nghe có thể đặt điện thoại xuống thay vì vừa nghe vừa xử lý màn hình. Nếu bắt buộc phải sử dụng thiết bị, việc nói rõ lý do và quay lại cuộc trò chuyện sau đó giúp sự gián đoạn có điểm bắt đầu và kết thúc.
Giá trị của những quy ước này nằm ở việc giảm sự không chắc chắn. Các thành viên không phải liên tục tự hỏi: “Người này có đang nghe mình không?” hay “Nếu điện thoại rung, cuộc trò chuyện này có bị bỏ dở không?”
Một nguyên tắc thực tế là ưu tiên bảo vệ ba loại thời điểm:
1. Thời điểm chuyển tiếp như khi mọi người vừa về nhà, bắt đầu bữa ăn hoặc gặp lại nhau sau một ngày
2. Thời điểm một người chủ động tìm kết nối, đặc biệt khi họ đang kể điều quan trọng hoặc thể hiện cảm xúc
3. Thời điểm cả gia đình đã ngầm hoặc rõ ràng xác định là hoạt động chung
Điểm cốt lõi không phải tạo ra càng nhiều giờ “không màn hình” càng tốt. Mục tiêu là tạo đủ những khoảng trong đó mỗi người có thể tin rằng khi họ hướng về gia đình, sẽ có người hướng lại về phía họ.
Điện thoại trong thời gian gia đình có thể làm giảm cảm giác thuộc về khi nó thường xuyên biến sự hiện diện chung thành sự hiện diện bị chia nhỏ. Cơ chế không chỉ nằm ở thời lượng màn hình mà ở việc điện thoại cạnh tranh với ánh mắt, phản hồi, sự đồng cảm và những tín hiệu cho biết một người đang được ưu tiên.
Ảnh hưởng thường đáng chú ý hơn khi cuộc trò chuyện mang ý nghĩa cá nhân hoặc khi một thành viên đang tìm kiếm kết nối. Ngược lại, điện thoại không nhất thiết làm suy yếu gắn kết nếu nó phục vụ hoạt động chung, sự gián đoạn có giới hạn rõ ràng hoặc việc sử dụng không thay thế sự đáp ứng giữa các thành viên.
Vì thế, bảo vệ cảm giác thuộc về không đòi hỏi loại bỏ điện thoại khỏi đời sống gia đình. Điều quan trọng hơn là bảo vệ những khoảnh khắc mà mỗi người cần được trải nghiệm một thông điệp rất đơn giản: khi tôi hướng về bạn, bạn vẫn đang ở đây với tôi.
