Vì sao xuất hiện cảm giác bị phớt lờ vì điện thoại?
- Sự chú ý bị rút đi là tín hiệu đầu tiên khiến người bên cạnh cảm thấy mình không còn được ưu tiên
- Màn hình dễ biến sự thiếu chú ý thành một trải nghiệm giống bị loại trừ xã hội
- Cảm giác bị phớt lờ thường mạnh hơn khi người cầm điện thoại là người thân
- Việc lặp lại khiến một gián đoạn nhỏ dần trở thành một thông điệp về mối quan hệ
- Không phải mọi hành vi nhìn điện thoại đều mang ý nghĩa “người thân không quan tâm”
- Điều khiến điện thoại gây tổn thương không phải bản thân màn hình mà là sự suy giảm cảm giác được đáp ứng
Trong nghiên cứu về giao tiếp, hành vi ưu tiên điện thoại thay cho người đang hiện diện thường được gọi là phubbing — sự kết hợp giữa “phone” và “snubbing”. Điều quan trọng là phubbing mô tả hành vi và trải nghiệm trong tương tác, không đồng nghĩa người cầm điện thoại nhất thiết cố tình coi thường người khác. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy việc bị phubbing có thể làm tăng cảm giác bị loại trừ, tạo tâm trạng tiêu cực và đe dọa các nhu cầu tâm lý cơ bản; hiệu ứng còn rõ hơn khi hành vi này được lặp lại nhiều lần thay vì chỉ xuất hiện một lần.
Sự chú ý bị rút đi là tín hiệu đầu tiên khiến người bên cạnh cảm thấy mình không còn được ưu tiên
Trong một cuộc trò chuyện trực tiếp, chú ý không chỉ là “đang nghe hay không”. Nó được thể hiện qua hàng loạt tín hiệu phối hợp: nhìn người nói, phản ứng khi họ dừng câu, thay đổi nét mặt theo nội dung, đặt câu hỏi tiếp nối hoặc điều chỉnh lời nói theo cảm xúc vừa nhận thấy.
Điện thoại có thể làm đứt chuỗi phối hợp này rất nhanh. Khi ánh mắt liên tục chuyển xuống màn hình, câu trả lời đến chậm hoặc chỉ còn những tiếng “ừ”, “à”, người đang nói nhận được ít bằng chứng hơn rằng thông tin của mình đã được tiếp nhận. Vấn đề vì thế không nằm đơn thuần ở số phút sử dụng điện thoại mà ở chất lượng của sự đáp ứng trong đúng thời điểm hai người cần tương tác.
Đây cũng là lý do một lần kiểm tra tin nhắn ngắn chưa chắc tạo cảm giác bị bỏ rơi, trong khi việc liên tục quay lại màn hình giữa cùng một cuộc trò chuyện lại dễ gây khó chịu. Trong thí nghiệm về phubbing, những người trải nghiệm hành vi này nhiều lần báo cáo cảm giác bị loại trừ và sự đe dọa đối với các nhu cầu tâm lý cơ bản mạnh hơn so với tình huống phubbing chỉ xảy ra một lần.
Điều người bên cạnh tiếp nhận vì vậy không chỉ là: “Họ đang xem điện thoại”, mà có thể trở thành: “Thứ trên màn hình đang nhận được sự chú ý mà lẽ ra cuộc tương tác giữa chúng ta đang có.”

Màn hình dễ biến sự thiếu chú ý thành một trải nghiệm giống bị loại trừ xã hội
Con người đặc biệt nhạy với những tín hiệu cho biết mình có được người khác tiếp nhận hay không. Trong một tương tác bình thường, sự im lặng hoặc mất tập trung đôi khi có thể được giải thích bằng mệt mỏi, suy nghĩ riêng hoặc môi trường xung quanh. Điện thoại lại tạo ra một tín hiệu rất cụ thể: sự chú ý của người kia đang hướng đến một nguồn khác.
Vì vậy, người bị bỏ lại trong cuộc trò chuyện dễ trải nghiệm tình huống theo cấu trúc giống một dạng loại trừ xã hội: hai người cùng hiện diện nhưng một người không còn tham gia đầy đủ vào không gian tương tác chung.
Nghiên cứu thực nghiệm về phubbing cho thấy trải nghiệm này có thể làm tăng cảm giác bị ostracize — tức cảm giác bị gạt ra ngoài — đồng thời làm xấu đi tâm trạng và đe dọa những nhu cầu nền tảng như cảm giác thuộc về và được công nhận trong tương tác. Một nghiên cứu khác xây dựng thang đo trải nghiệm bị phubbing cũng ghi nhận rằng những người cảm thấy mình bị phớt lờ qua điện thoại có xu hướng trải nghiệm mức độ loại trừ xã hội cao hơn.
Cơ chế này giải thích vì sao phản ứng cảm xúc đôi khi mạnh hơn mức mà bản thân hành động “nhìn màn hình” có vẻ đáng gây ra. Người ta không chỉ phản ứng với chiếc điện thoại; họ phản ứng với ý nghĩa xã hội mà sự chuyển hướng chú ý có thể mang theo.
Cảm giác bị phớt lờ thường mạnh hơn khi người cầm điện thoại là người thân
Cùng một hành vi có thể tạo ra mức độ khó chịu khác nhau tùy người thực hiện. Một người lạ nhìn điện thoại trong lúc chờ xe thường không tạo nhiều ý nghĩa cá nhân. Nhưng nếu người yêu, vợ chồng, cha mẹ hoặc một người rất thân liên tục làm điều đó khi mình đang chia sẻ, kỳ vọng ban đầu hoàn toàn khác.
Quan hệ càng gần thường càng chứa nhiều kỳ vọng về sự hiện diện, khả năng đáp ứng và mức độ ưu tiên lẫn nhau. Vì vậy, sự thiếu chú ý từ người thân dễ được diễn giải không chỉ như một gián đoạn kỹ thuật mà như thông tin về chính mối quan hệ: “Điều mình đang nói có quan trọng không?”, “Họ có muốn ở đây với mình không?” hoặc “Mình có đang được đặt sau những thứ trên màn hình không?”
Các nghiên cứu về partner phubbing cho thấy mức phubbing từ bạn đời cao hơn có liên hệ với mức hài lòng quan hệ và chất lượng quan hệ cảm nhận thấp hơn. Một phân tích tổng hợp công bố năm 2025 cũng ghi nhận partner phubbing có liên hệ bất lợi với nhiều chỉ báo quan hệ như sự hài lòng, mức độ thân mật, cảm nhận về khả năng đáp ứng và sự gần gũi cảm xúc.
Tuy nhiên, các kết quả liên hệ này không có nghĩa cứ nhìn điện thoại là nguyên nhân trực tiếp khiến một mối quan hệ trở nên kém chất lượng. Quan hệ vốn đã căng thẳng cũng có thể đi kèm nhiều hành vi rút lui hoặc sử dụng điện thoại hơn. Điểm có thể rút ra thận trọng hơn là: trong mối quan hệ gần gũi, sự chú ý qua điện thoại mang nhiều ý nghĩa quan hệ hơn vì người nhận có kỳ vọng cao hơn về sự đáp ứng của người kia.
Việc lặp lại khiến một gián đoạn nhỏ dần trở thành một thông điệp về mối quan hệ
Một lần nhìn điện thoại thường có nhiều cách giải thích: kiểm tra cuộc gọi công việc, đọc thông báo quan trọng hoặc xử lý một việc cần thiết. Khi hành vi trở thành mô thức lặp lại, số cách giải thích vô hại bắt đầu giảm đi trong nhận thức của người đối diện.
Mỗi lần người thân quay về màn hình giữa lúc mình đang nói có thể hoạt động như một tín hiệu nhỏ. Một tín hiệu riêng lẻ chưa chắc đủ tạo kết luận. Nhưng chuỗi tín hiệu giống nhau dễ hình thành một dự đoán: “Mình nói rồi họ cũng sẽ nhìn điện thoại”, “Có kể tiếp cũng không được nghe trọn vẹn”.
Thí nghiệm về phubbing đặc biệt hữu ích ở điểm này vì nó cho thấy tần suất có ý nghĩa: những tác động lên cảm giác bị loại trừ và các nhu cầu tâm lý mạnh hơn khi phubbing xảy ra ba lần so với chỉ một lần trong cuộc tương tác được nghiên cứu.
Khi hiện tượng lặp lại đủ nhiều, cảm xúc có thể xuất hiện ngay trước cả lần mất chú ý tiếp theo. Người bị phớt lờ bắt đầu cảnh giác với màn hình, dễ chú ý đến mỗi lần điện thoại sáng lên và nhanh chóng diễn giải việc người kia cầm máy như dấu hiệu mình sắp bị mất kết nối. Lúc này, cảm giác bị bỏ qua không còn gắn với một khoảnh khắc riêng lẻ mà với một kỳ vọng được học từ cả chuỗi tương tác.
Không phải mọi hành vi nhìn điện thoại đều mang ý nghĩa “người thân không quan tâm”
Một sai lầm thường gặp là đồng nhất trải nghiệm “tôi cảm thấy bị phớt lờ” với kết luận “người kia cố tình phớt lờ tôi”. Hai điều này không hoàn toàn giống nhau.
Cảm giác bị bỏ qua mô tả trải nghiệm của người đang không nhận đủ tín hiệu chú ý. Ý định của người dùng điện thoại lại là vấn đề khác. Họ có thể đang xử lý công việc khẩn cấp, phản hồi một thành viên gia đình, tra cứu thông tin cho chính cuộc trò chuyện hoặc chỉ vô thức kiểm tra máy theo thói quen.
Bởi vậy, ý nghĩa của hành vi cần được đặt trong bối cảnh. Một lần sử dụng có lý do rõ ràng và sau đó quay lại tương tác đầy đủ khác với việc nhiều lần rời cuộc trò chuyện mà không giải thích. Tương tự, người vừa nói “cho mình trả lời tin nhắn này một phút” tạo ra một tín hiệu xã hội khác với người đột ngột nhìn màn hình trong lúc đối phương đang kể một chuyện quan trọng.
Ranh giới quan trọng nằm ở khả năng duy trì hoặc khôi phục kết nối. Nếu sự chú ý chỉ tạm thời rời đi nhưng sau đó người kia quay lại, nhớ nội dung đang nói và tiếp tục đáp ứng, cảm giác bị loại trừ thường có ít cơ sở để tích tụ hơn. Nếu quá trình mất chú ý lặp đi lặp lại và người bên cạnh liên tục phải giành lại sự hiện diện của đối phương, trải nghiệm bị phớt lờ dễ trở nên có ý nghĩa hơn.
Điều khiến điện thoại gây tổn thương không phải bản thân màn hình mà là sự suy giảm cảm giác được đáp ứng
Điện thoại thường bị xem như “thủ phạm”, nhưng về mặt tâm lý, chiếc máy chỉ là phương tiện làm cho sự chuyển hướng chú ý trở nên rất dễ thấy.
Cốt lõi của trải nghiệm nằm ở câu hỏi: khi mình hướng đến người này, họ có hướng trở lại với mình không?
Nếu câu trả lời thường xuyên là không, một số nhu cầu xã hội quan trọng bắt đầu bị đụng chạm: cảm giác mình thuộc về mối quan hệ, lời nói của mình có trọng lượng và sự hiện diện của mình tạo ra phản hồi ở người kia. Nghiên cứu về phubbing phù hợp với cơ chế này khi cho thấy hành vi phubbing liên quan đến cảm giác bị loại trừ, giảm kết nối xã hội và những kết quả quan hệ kém thuận lợi hơn.
Điều này cũng giải thích một nghịch lý quen thuộc: hai người có thể ở cùng một căn phòng trong thời gian dài mà một người vẫn thấy cô đơn. Sự hiện diện vật lý không tự động tạo ra sự hiện diện tâm lý. Cảm giác được chú ý cần những tín hiệu cho thấy người kia đang tiếp nhận, phản hồi và chia sẻ cùng một khoảnh khắc.
Vì thế, cảm giác bị phớt lờ vì điện thoại dễ xuất hiện khi ba yếu tố gặp nhau: sự chú ý trực tiếp bị rút đi, hành vi đó xảy ra từ một người mà ta kỳ vọng có sự đáp ứng, và sự gián đoạn được lặp lại đủ để mang ý nghĩa vượt khỏi một lần kiểm tra điện thoại đơn lẻ.
Cảm giác bị phớt lờ vì điện thoại hình thành không đơn giản vì “người thân dùng điện thoại quá nhiều”. Nó xuất hiện khi màn hình làm gián đoạn những tín hiệu vốn cho chúng ta biết rằng mình đang được nhìn thấy, được nghe và được đáp lại.
Một lần mất tập trung có thể chỉ là gián đoạn. Nhưng khi người thân liên tục chuyển ánh mắt và phản hồi sang màn hình, người ở bên cạnh dễ diễn giải sự thiếu chú ý đó như một tín hiệu mình đang bị đặt ra ngoài cuộc tương tác. Các nghiên cứu về phubbing cho thấy trải nghiệm này có thể kích hoạt cảm giác bị loại trừ và đe dọa nhu cầu thuộc về; trong quan hệ gần gũi, nó còn gắn với mức độ đáp ứng, thân mật và hài lòng quan hệ thấp hơn.
Do đó, điều đáng chú ý nhất không phải chiếc điện thoại nằm trên bàn bao lâu, mà là sau mỗi lần màn hình lấy mất sự chú ý, mối liên hệ giữa hai người có được phục hồi hay không. Đây chính là điểm phân biệt giữa một gián đoạn thông thường và trải nghiệm lặp lại khiến một người dần cảm thấy mình không còn được chú ý.
