Thiết bị số ảnh hưởng khả năng lắng nghe trong gia đình thế nào?
- Lắng nghe suy giảm khi sự chú ý chung bị chia cắt
- Sự phân tán chú ý làm giảm khả năng đáp ứng với người thân
- Người nói không chỉ mất sự chú ý mà còn mất cảm giác mình đang được lắng nghe
- Gián đoạn lặp lại có thể biến thành một vòng phản ứng trong gia đình
- Mức ảnh hưởng phụ thuộc cách thiết bị chen vào cuộc trò chuyện
- Bảo vệ khả năng lắng nghe bằng cách bảo vệ những khoảng chú ý không bị cạnh tranh
Trong nghiên cứu về gia đình, hiện tượng công nghệ chen vào thời gian tương tác trực tiếp thường được gọi là technoference. Phubbing là một biểu hiện hẹp hơn, xảy ra khi một người ưu tiên điện thoại thay vì chú ý tới người đang hiện diện. Nghiên cứu không cho phép kết luận rằng mọi lần nhìn điện thoại đều phá hỏng giao tiếp, nhưng cho thấy mức độ bị thiết bị thu hút và sự gián đoạn lặp lại có liên hệ đáng kể với khả năng đáp ứng, chất lượng tương tác và cảm nhận được quan tâm trong các mối quan hệ.
Lắng nghe suy giảm khi sự chú ý chung bị chia cắt
Lắng nghe trong gia đình không phải một hoạt động thụ động chỉ cần “nghe thấy” lời nói. Người nghe phải liên tục ghép nội dung đang được nói với ngữ cảnh trước đó, nhận diện điều người kia nhấn mạnh và điều chỉnh phản hồi theo những tín hiệu mới.
Thiết bị số cạnh tranh trực tiếp với quá trình này. Một thông báo, một màn hình sáng hoặc ý nghĩ rằng có tin nhắn cần kiểm tra có thể tạo ra một mục tiêu chú ý thứ hai. Khi người dùng chuyển sang thiết bị, chuỗi xử lý cuộc trò chuyện bị đứt đoạn: một vài từ vẫn có thể được nghe thấy nhưng ý nghĩa đầy đủ, sắc thái cảm xúc hoặc mối liên hệ giữa các câu dễ bị bỏ qua.
Nghiên cứu nhận thức cũng cho thấy smartphone có khả năng can thiệp vào chú ý ngay cả khi người sử dụng cố tập trung vào nhiệm vụ khác; các nghiên cứu về thông báo điện thoại ghi nhận sự suy giảm trong một số nhiệm vụ đòi hỏi kiểm soát chú ý. Điều này giúp giải thích vì sao một người có thể thực sự tin rằng mình “vẫn nghe” trong lúc xem điện thoại, nhưng lại phản hồi chậm, hỏi lại điều vừa được nói hoặc chỉ nắm được phần bề mặt của câu chuyện.
Vì vậy, vấn đề cốt lõi không nhất thiết là thiết bị đã chiếm bao nhiêu phút. Một sự gián đoạn ngắn nhưng xuất hiện đúng lúc người thân đang nói điều quan trọng cũng có thể làm giảm chất lượng lắng nghe nhiều hơn một khoảng sử dụng thiết bị dài nhưng diễn ra ngoài cuộc trò chuyện.

Sự phân tán chú ý làm giảm khả năng đáp ứng với người thân
Một dấu hiệu quan trọng của lắng nghe là responsiveness — khả năng nhận ra tín hiệu từ người đối diện và phản hồi đúng lúc, đúng nội dung, đúng trạng thái cảm xúc.
Khi chú ý bị hút vào thiết bị, quá trình này dễ suy yếu. Người nghe có thể vẫn trả lời “ừ”, “biết rồi” hoặc gật đầu, nhưng phản hồi không còn bám sát những gì người kia vừa diễn đạt. Trong tương tác với trẻ nhỏ, điều này đặc biệt dễ nhận thấy vì trẻ thường giao tiếp bằng sự kết hợp giữa lời nói, ánh mắt, cử chỉ và những yêu cầu chú ý rất ngắn.
Một tổng quan nghiên cứu về việc cha mẹ sử dụng smartphone khi ở cùng trẻ cho thấy việc sử dụng điện thoại có liên hệ với thay đổi về độ nhạy và khả năng đáp ứng của cha mẹ; đặc biệt, mức độ bị cuốn vào thiết bị dường như quan trọng hơn bản thân một lần gián đoạn ngắn.
Nghiên cứu về technoference trong 170 gia đình Mỹ có con nhỏ cũng ghi nhận rằng sử dụng công nghệ có vấn đề dự báo mức gián đoạn công nghệ cao hơn trong tương tác cha mẹ – con. Trong mẫu nghiên cứu này, chỉ khoảng 11% phụ huynh cho biết không xảy ra technoference trong một ngày điển hình, trong khi 48% cho biết có từ ba lần gián đoạn trở lên.
Các số liệu đó không có nghĩa ba lần kiểm tra điện thoại sẽ tự động gây ra một hậu quả cụ thể. Chúng cho thấy gián đoạn bởi thiết bị có thể trở thành một phần thường xuyên của đời sống gia đình và vì thế tác động không nên chỉ được nhìn như những sự cố riêng lẻ.
Người nói không chỉ mất sự chú ý mà còn mất cảm giác mình đang được lắng nghe
Lắng nghe có hai phía: một người cần thực sự tiếp nhận thông tin, còn người nói cần nhận thấy rằng mình đang được tiếp nhận.
Khi người nghe nhìn xuống điện thoại, trả lời chậm hoặc liên tục chuyển ánh mắt giữa màn hình và người đối diện, các tín hiệu của sự hiện diện bị suy giảm. Người nói không biết liệu thông tin của mình đã được hiểu hay chưa. Họ có thể phải nhắc lại, tăng giọng, rút ngắn câu chuyện hoặc ngừng chia sẻ.
Đây là lý do phubbing có thể gây hậu quả quan hệ ngay cả khi người dùng điện thoại cho rằng mình vẫn theo dõi cuộc trò chuyện. Các thí nghiệm về phubbing cho thấy người bị phubbing có thể trải nghiệm sự suy giảm ở những nhu cầu xã hội cơ bản như cảm giác thuộc về, được công nhận và có ý nghĩa trong tương tác. Nghiên cứu về các cặp đôi cũng liên hệ technoference với xung đột nhiều hơn quanh việc sử dụng công nghệ và mức hài lòng quan hệ thấp hơn.
Vì vậy, ảnh hưởng của thiết bị số đối với lắng nghe không dừng ở việc “bỏ sót thông tin”. Nó còn có thể thay đổi thông điệp quan hệ mà người kia nhận được: “Điều bạn đang nói có đủ quan trọng để tôi dành sự chú ý cho nó hay không?”
Gián đoạn lặp lại có thể biến thành một vòng phản ứng trong gia đình
Một lần mất tập trung thường có thể được sửa chữa nhanh. Khó khăn lớn hơn xuất hiện khi mô hình này lặp đi lặp lại.
Chẳng hạn, một đứa trẻ gọi cha mẹ nhưng không nhận được phản hồi vì người lớn đang tập trung vào điện thoại. Trẻ có thể gọi lại, nói lớn hơn hoặc chuyển sang một hành vi mạnh hơn để giành chú ý. Khi người lớn cuối cùng rời màn hình trong trạng thái bị gián đoạn, họ có thể phản ứng bằng khó chịu. Quan sát được trích dẫn trong nghiên cứu gia đình cho thấy trẻ đôi khi tăng cường hành vi để lấy lại sự chú ý của người chăm sóc đang sử dụng thiết bị, trong khi người lớn có thể đáp lại bằng sự bực bội.
Trong quan hệ vợ chồng, cơ chế tương tự có thể diễn ra theo cách tinh tế hơn. Người nói cảm thấy không được nghe nên trở nên ngắn gọn, lạnh nhạt hoặc chỉ trích việc dùng điện thoại; người còn lại cảm thấy bị kiểm soát và tiếp tục rút vào thiết bị. Khi đó, vấn đề ban đầu là sự phân tán chú ý có thể phát triển thành xung đột về mức độ quan tâm.
Điều quan trọng là không đảo ngược quan hệ nhân quả một cách máy móc. Một số nghiên cứu về technoference là nghiên cứu tương quan hoặc tự báo cáo. Chính căng thẳng gia đình, hành vi khó điều chỉnh của trẻ hoặc nhu cầu nghỉ ngơi của cha mẹ cũng có thể làm tăng xu hướng tìm đến thiết bị. Nghiên cứu ban đầu vì thế nhấn mạnh rằng quan hệ có thể mang tính hai chiều thay vì đơn giản là “điện thoại gây ra mọi vấn đề”.
Mức ảnh hưởng phụ thuộc cách thiết bị chen vào cuộc trò chuyện
Không phải mọi hình thức sử dụng thiết bị số đều có giá trị như nhau khi đánh giá khả năng lắng nghe.
Mức độ bị cuốn vào thiết bị là một yếu tố quan trọng. Một người nhìn nhanh vào màn hình để xác định cuộc gọi khẩn cấp rồi quay lại có thể duy trì tương tác tốt hơn người liên tục đọc, cuộn hoặc trả lời nội dung trong suốt cuộc trò chuyện. Tổng quan về tương tác cha mẹ – con cũng chỉ ra rằng sự hấp thụ vào smartphone có thể liên quan mạnh hơn với suy giảm độ nhạy và khả năng đáp ứng so với một gián đoạn ngắn đơn thuần.
Tính chất cuộc trò chuyện cũng làm thay đổi ý nghĩa của gián đoạn. Việc kiểm tra điện thoại trong một trao đổi thông thường khác với kiểm tra nó khi con đang kể về một sự việc khiến trẻ buồn hoặc khi vợ chồng đang giải quyết mâu thuẫn.
Mục đích sử dụng cũng cần được phân biệt. Hai thành viên cùng xem ảnh gia đình, tra cứu một thông tin đang được bàn tới hoặc gọi video cho người thân vẫn có thể là hoạt động mang tính kết nối. Vấn đề xảy ra khi thiết bị tạo ra một luồng chú ý cạnh tranh với người đang giao tiếp trực tiếp.
Cuối cùng, không nên khẳng định rằng chỉ cần một chiếc điện thoại xuất hiện trong phòng là chắc chắn làm hỏng trò chuyện. Nghiên cứu về “mere presence effect” đã cho kết quả không hoàn toàn nhất quán; một nghiên cứu tái lập năm 2021 không xác nhận đầy đủ những tác động quan hệ từng được báo cáo trước đó. Ranh giới này cho thấy cần tập trung vào hành vi phân bổ chú ý thực tế, thay vì xem bản thân thiết bị là nguyên nhân duy nhất.
Bảo vệ khả năng lắng nghe bằng cách bảo vệ những khoảng chú ý không bị cạnh tranh
Từ cơ chế trên, giải pháp phù hợp không nhất thiết là loại bỏ thiết bị số khỏi đời sống gia đình. Mục tiêu thực tế hơn là ngăn thiết bị cạnh tranh với sự chú ý vào những thời điểm mà việc lắng nghe có giá trị cao.
Một nguyên tắc hữu ích là tạo ra những khoảng chú ý ưu tiên: khi một thành viên đang kể chuyện quan trọng, khi gia đình xử lý xung đột, trong những phút đầu trẻ muốn chia sẻ sau khi trở về nhà hoặc trong một số bữa ăn và hoạt động chung. Ở những thời điểm này, đặt thiết bị ngoài tầm tay, úp màn hình hoặc tắt các thông báo không cần thiết giúp giảm số lần phải chuyển đổi mục tiêu chú ý.
Nếu buộc phải kiểm tra thiết bị, một tín hiệu giao tiếp ngắn cũng có thể bảo vệ cảm giác được lắng nghe tốt hơn việc im lặng chuyển sang màn hình: nói rõ vì sao cần xem điện thoại và quay lại cuộc trò chuyện sau đó. Điều này không loại bỏ sự gián đoạn, nhưng giúp người đối diện hiểu rằng sự chú ý bị chuyển đi vì một lý do cụ thể chứ không phải vì nội dung họ nói không quan trọng.
Sau một lần mất tập trung, khả năng sửa chữa cuộc trò chuyện cũng quan trọng. Thay vì giả vờ đã nghe đủ, người nghe có thể thừa nhận mình vừa bỏ lỡ một đoạn và đề nghị người kia nói lại. Về mặt quan hệ, việc chủ động khôi phục sự chú ý thường có ý nghĩa hơn một phản hồi tự động không dựa trên những gì vừa được nói.
Đối với gia đình có trẻ nhỏ, người lớn còn đóng vai trò mẫu hình. Nếu thiết bị luôn có quyền ngắt ngang bất kỳ cuộc trò chuyện nào, trẻ dễ học rằng sự hiện diện trực tiếp có mức ưu tiên thấp hơn tín hiệu từ màn hình. Ngược lại, khi người lớn chủ động hoàn thành một lượt lắng nghe trước khi kiểm tra thiết bị, họ đang thể hiện một quy tắc giao tiếp rất cụ thể: công nghệ được sử dụng trong gia đình, nhưng không mặc nhiên được quyền chiếm lấy mọi khoảnh khắc chú ý.
Thiết bị số làm suy giảm khả năng lắng nghe trong gia đình chủ yếu khi chúng chia cắt sự chú ý đang dành cho người đối diện. Hậu quả có thể xuất hiện ở nhiều cấp độ: bỏ sót nội dung và tín hiệu cảm xúc, phản hồi kém chính xác, giảm cảm giác được quan tâm và tạo ra những vòng tương tác căng thẳng nếu gián đoạn lặp lại.
Tuy nhiên, không nên đồng nhất mọi lần dùng điện thoại với lắng nghe kém. Nghiên cứu cho thấy cần quan tâm nhiều hơn đến mức độ bị cuốn vào thiết bị, tần suất gián đoạn, thời điểm sử dụng và ý nghĩa của cuộc trò chuyện. Vì thế, điểm then chốt không phải là một gia đình có thiết bị số hay không, mà là khi nào thiết bị được phép cạnh tranh với sự chú ý dành cho nhau.
