Trang chủ » Chảy máu mũi không xử lý đúng cách có thể dẫn đến cái chết

Chảy máu mũi không xử lý đúng cách có thể dẫn đến cái chết

(Ngày đăng: 02-08-2018 15:18:22)
Chảy máu mũi nặng hoặc nhẹ tùy thuộc vào từng trường hợp khác nhau. Trong mỗi số tình huống nếu không xử lý chảy máu mũi đúng cách có thể dẫn đến cái chết.

Chảy máu mũi không xử lý đúng cách có thể dẫn đến cái chết

Chảy máu mũi là thuật ngữ chỉ hiện tượng xuất huyết cấp tính từ lỗ mũi, khoang mũi. Đây là một trong những loại bệnh thường thấy thường xuyên, dường như ai một lần trong đời cũng đã từng mắc chứng chảy máu mũi. Phần lớn chảy máu mũi là tự phát, nó diễn ra đột ngột và lành tính, tự khỏi. Một trong số đó là những trường hợp hiếm hoi, tái phát, chảy máu liên tục, kéo dài và có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.

Chảy máu mũi được phân thành 2 loại: chảy máu mũi trước và chảy máu mũi sau. Chảy máu mũi trước thường là do nguyên nhân chấn thương nhẹ, ngoáy mũi nhiều hoặc hắc xì mũi quá mạnh khiến cho những mạch máu trong khoan mũi bị hư tổn, bị vỡ. Chảy máu mũi trước chiếm khoảng 90% bệnh nhân, trường hợp này ít gây nguy hiểm hơn so với loại chảy máu mũi sau, xuất hiện khi tổn thương ở sâu bên trong mũi.

Mức độ trầm trọng của chảy máu mũi tuỳ thuộc nguyên nhân, vị trí chảy máu: chảy máu mũi, trước chiếm tỷ lệ lớn nhưng thường không nặng, còn chảy máu mũi sau hiếm gặp nhưng thường nặng hơn do xuất phát từ mạch máu lớn, đôi khi liên quan đến những mạch máu của não. Chảy máu mũi sau có thể đe doạ đến tính mạng!

Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân gây chảy máu mũi, có cả do tại chỗ hoặc do bệnh toàn thân.

Tại chỗ: do viêm nhiễm như viêm mũi cấp, viêm mũi mãn, viêm mũi do vi khuẩn, viêm mũi virút; viêm xoang cấp; viêm mũi vận mạch; viêm mũi dị ứng... Do chấn thương vì ngoáy mũi hoặc dị vật lọt vào mũi (thường gặp ở trẻ em); sỏi mũi ở cả người lớn và trẻ em; sang thương gây loét hốc mũi thường gặp ở công nhân ngành hoá chất khi bảo hộ chưa tốt, do lao, giang mai hoặc bệnh phong (hủi). Do cấu trúc bất thường ở hốc mũi như vẹo hoặc gai của vách ngăn mũi... Do khối u: lành tính như u xơ vòm mũi họng, u do nấm và u ác tính như ung thư vòm họng, u hốc mũi, u xoang, u sàn sọ...

Nguyên nhân toàn thân như bệnh toàn thân cấp tính gây rối loạn đông cầm máu ban đầu như cúm, sởi nặng, sốt tinh hồng nhiệt, sốt xuất huyết, sốt rét… Bệnh của hệ tim mạch như cao huyết áp; vỡ các phình mạch của hệ mạch máu động mạch cảnh; bệnh xơ vữa động mạch. Bệnh của hệ máu gặp ở những người có thể trạng thiếu máu nặng, nhiễm trùng nhiễm độc, thiếu vitamin. Bệnh bạch cầu cấp; suy tuỷ; giảm tiểu cầu chưa rõ nguyên nhân, rối loạn chất lượng tiểu cầu, và những bệnh thuộc về mạch máu như bệnh ưa chảy máu.

Một số nguyên nhân khác như sự thay đổi nội tiết trong cơ thể ở người có thai, có kinh nguyệt hoặc dùng corticoide xịt mũi kéo dài không đúng chỉ định, dùng thuốc chống đông; do thay đổi áp lực của khí quyển, thay đổi thời tiết... Còn lại khoảng 5% không tìm được nguyên nhân (vô căn), thường gặp ở tuổi thanh thiếu niên, chảy máu tự nhiên số lượng ít tái diễn nhiều lần và hay gặp khi làm việc gắng sức hoặc đi ngoài nắng quá lâu.

Những trường hợp nhẹ thì không cần nhập viện, thường chỉ cần dùng ngón cái cùng bên ấn nhẹ bên cánh mũi chảy máu, giữ trong 5 - 10 phút, trong khi đầu để thẳng.

Xử trí

Một trong những biện pháp can thiệp cầm máu mũi đầu tiên khi nhập viện là nhét bấc, một biện pháp đã được áp dụng gần 200 năm nay và vẫn được dùng rộng rãi tới nay. Đến những năm 1910 –1920, một phương pháp khác được đưa ra là thắt mạch máu lớn ở vùng cổ, sau đó đến thập niên 1930 phương pháp thắt động mạch hàm qua xoang hàm được áp dụng. Ngày nay, có thêm nhiều phương pháp với tỷ lệ cầm máu mũi thành công cao (80 – 100%):

Đốt cầm máu với những trường hợp chảy máu từ điểm mạch Kiessebach (chảy máu ở mũi trước). Đốt bằng hoá chất nitrat bạc (AgNO3 10%), đốt điện đơn cực, hai cực hoặc đốt bằng laser.

Cầm máu mũi qua nội soi: được áp dụng cho những trường hợp chảy máu mũi tái phát sau khi đã nhét bấc. Phương pháp này thường được dùng cho những trường hợp chảy máu xuất phát từ trong mũi, được áp dụng rất phổ biến ở các bệnh viện có chuyên khoa tai mũi họng.

Thắt động mạch: chỉ sử dụng khi các phương pháp cầm máu trên thất bại, phương pháp này được áp dụng với những trường hợp chảy máu mũi nặng xuất phát từ ngoài hốc mũi như đa chấn thương, chấn thương đầu mặt có kèm theo gãy hoặc vỡ xương mặt, những mạch máu được thắt có thể là động mạch hàm, động mạch sàng, động mạch cảnh chung hoặc động mạch cảnh ngoài.

Thuyên tắc mạch (nút mạch): được làm sau khi đã thực hiện chụp mạch (DSA – một trong những tiến bộ vượt bậc trong những năm gần đây để chẩn đoán nhiều bệnh lý trong đó có chảy máu mũi nặng hoặc chảy máu mũi tái phát). Sau khi đã chụp mạch và xác định rõ vị trí chảy máu mũi ở bên nào và tại nhánh động mạch nào ở vùng đầu mặt, những chất liệu tắc mạch khác nhau được bơm vào trong lòng mạch máu đang chảy để cầm máu. Bệnh viện Chợ Rẫy đang thực hiện kỹ thuật này một cách thường xuyên để xử trí cầm máu ở tất cả trường hợp chảy máu mũi nặng hoặc chảy máu mũi tái phát nhiều lần.